Điểm qua 6 cách ăn Ramen của người Nhật

Điểm qua 6 cách ăn Ramen của người Nhật


Ramen là một trong những món mì nức danh của Nhật Bản được nhiều người ưa thích , và đương nhiên người Nhật sẽ Có sẵn hằng hà sa số các kiểu ăn ramen , mà kiểu nào cũng ngon mới hay chứ!

Trên thực tiễn , mì ramen có nguồn gốc từ Trung Quốc và hiện ra ở Nhật khá muộn so với những món mì truyền thống khác. Nhưng thời gian trôi qua , món mì này đã được người dân núi sông rạng đông Hình thành một món ăn thuần túy Nhật Bản.  Ngày nay , hồ hết các vùng của Nhật đều có món ramen đặc trưng của họ , sự khác biệt từ sợi mì , nước lèo , gia vị đến những món đi kèm. 
Chúng tôi sẽ cùng tìm hiểu về 6 loại ramen phổ biến nhất ở Nhật nhé! 

Shoyu - Xì dầu

Shoyu trong tiếng Nhật có tức là "xì dầu" , vậy nên điểm khác biệt của shoyu ramen so với các loại khác là nước dùng có màu nâu nhạt và mùi hương đặc điểm.  Nước dùng này được làm từ thịt gà nấu với rau củ và xì dầu. Shoyu ramen thường dùng loại mì sợi nhỏ , đi kèm với menma ( măng khô ) , hành ta , kamaboko ( chả cá ) rong biển , trứng luộc và chashu ( một loại thịt xá xíu kiểu Nhật ). Đây là loại ramen phổ thông nhất ở Tokyo. 


Tonkotsu

Tonkotsu dịch ra tức là "xương lợn".  Nước dùng của loại ramen này khá đặc và có màu trắng nhạt , một số người còn nói nó ngậy như sữa. Màu sắc và độ sánh của nước dùng đến từ việc hầm xương lợn và mỡ ở nhiệt độ cao trong nhiều giờ , ở một số nơi thời gian nấu có thể đến 20 tiếng. Tonkotsu ramen thường đi kèm với thịt lợn , gừng đỏ muối chua và một số loại rau. Loại ramen này có xuất xứ từ cùng Kyushu , còn có tên khác là Hakata.

 

Shio Ramen

Nước lèo của món shio ramen được xem là loại lâu đời nhất và trên thực tế , shio cũng có tức thị "muối". Loại nước lèo này trong , màu vàng nấu từ rất nhiều muối kết hợp với thịt gà hoặc cá , đôi khi xương lợn cũng được sử dụng. Shio ramen thông thường nhiều rong biển , có khả năng thay thế chashu bằng mận ngâm hay kamaboko. Shio ramen có vị mặn thắm thiết nên sẽ có thể không phù hợp với những người ăn nhạt đâu nhé! 

Miso Ramen

Mặc dầu tương miso đã có từ rất lâu , nhưng miso ramen mới xuất hiện từ những năm 1960 ở Hokkaido, một đảo lớn ở phía Bắc Nhật Bản.  Nước lèo  của món miso ramen này có vị ngòn ngọt, mùi thơm quyến rũ là sản phẩm của sự kết hợp mỡ gà hay nước lèo cá , hay thỉnh thoảng có cả mỡ lợn. Sợi mì của miso ramen thường dày , xoăn và hơi dai. 



Sự đặc biệt của loại ramen này ở chỗ , nước lèo không chan lên mì mà tách riêng ra. Khi ăn , thực khách sẽ chấm mì vào bát nước lèo sánh đặc có mùi vị thắm thiết. Sợi mì của tsukemen ramen thường dày hơn nhiều sợi mì ramen thường nhật và phải là mì lạnh khi phục vụ người ốm.  Vì thế , không giống với các loại ramen dị thường ăn khi trời lạnh , người Nhật thích ăn tsukemen ramen khi thời tiết nóng nực. 

Mì ramen

Tuy không tuyệt đối là một loại ramen "chính thống" , nhưng mì ramen ăn liền quả tình là giải pháp hoàn hảo cứu giúp bạn vượt qua cơn đói một cách chóng vánh mà lại rẻ tiền. Năm 1958 , Momofuku Ando , người sáng lập ra thương hiệu mì ramen ăn liền Nissin lừng danh toàn cầu , đã tạo ra gói ramen ăn liền hàng đầu như một món ăn thuận tiện , có thể ăn mọi lúc mọi nơi. Tuy có sự khác biệt lớn trong cách làm ra giữa các nước nhưng đối với người Nhật , mì ăn liền là một biểu tượng cho thương hiệu "made in Japan" , khi mà món ăn này phổ quát toàn thế giới. 



Share on Google Plus

About Ngôi Nhà Ẩm Thực

This is a short description in the author block about the author. You edit it by entering text in the "Biographical Info" field in the user admin panel.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét